- Trang chủ
- Bệnh béo phì
- Dự phòng bệnh tiêu hóa
- Phát hiện sớm bệnh tiêu hóa
- Điều trị bệnh tiêu hóa
- Hướng dẫn sau mổ
R0: Cắt triệt căn khối u, không còn tế bào ung thư về mặt vi thể
R1: Cắt khối u không triệt căn, còn để lại tế bào ung thư về mặt vi thể
R2: Cắt khối u không triệt căn, còn để lại tế bào ung thư cả về mặt đại thể và vi thể (khối u nguyên phát, hạch vùng di căn, di căn xa ở gan, phổi …).
Cắt ung thư trực tràng mở rộng là phẫu thuật cắt bỏ rộng rãi kể cả các tạng lân cận bị khối u xâm lấn thành một khối hoặc cắt khối u nguyên phát và một phần hoặc toàn bộ các tạng bị di căn với các điều kiện:
Thể trạng bệnh nhân cho phép thực hiện phẫu thuật lớn
Ung thư xâm lấn hay di căn nhưng còn khả năng cắt bỏ được.
Phẫu thuật không triệt căn: Phẫu thuật không triệt căn được thực hiện khi:
Kỹ thuật cắt u đơn thuần không lấy hết u, không nạo vét hạch theo nguyên tắc mà chỉ làm hậu môn nhân tạo đơn thuần trên dòng.

Phẫu thuật nội soi cắt u qua đường hậu môn
Phẫu thuật có thể thực hiện qua đường hậu môn hay qua xương cụt. Kỹ thuật gồm: cắt toàn bộ thành trực tràng có khối u, bờ ngoài cách khối u 1cm, khâu lại thành trực tràng. Chỉ định: bệnh nhân có thể trạng yếu hoặc từ chối phẫu thuật triệt căn. Tiêu chuẩn lựa chọn: khối u ở giai đoạn rất sớm giai đoạn T1N0 hoặc T2N0, u cách rìa hậu môn < 8 – 10cm, u chiếm < 1/3 chu vi lòng TT, chân nhỏ, kích thước < 3cm, độ biệt hóa cao hoặc vừa. Phương pháp có tỷ lệ tái phát tại chỗ và tỷ lệ sống sau 10 năm tương ứng là 17% và 74% đối với ung thư trực tràng có độ xâm lấn T1 và 26% và 72% đối với T2.
Phẫu thuật cắt đoạn sigma – trực tràng, bảo tồn cơ thắt. Miệng nối được coi là thấp khi nằm bên dưới ngách trực tràng – bàng quang. Phẫu thuật được gọi là cắt trực tràng trước thấp. Phẫu thuật bảo tổn cơ thắt được chỉ định cho các khối u ở 2/3 trên trực tràng. Sự thay đổi về quan điểm đối với khoảng cách an toàn tối thiểu từ bờ dưới u đến diện cắt dưới từ 5cm như trước đây thành 2cm như hiện nay. Theo Bujko và một số tác giả khác khoảng cách này chỉ cần > 1cm là đã an toàn và có thể mở rộng chỉ định phẫu thuật bảo tồn cơ thắt cho cả những khối u ở đoạn thấp của trực tràng.
Phẫu thuật cắt trước thấp bao gồm kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng so với kỹ thuật không cắt toàn bộ mạc treo trực tràng có kết quả tương ứng là: tỷ lệ rò miệng nối là 8,1% so với 1,3% (P <0,001). Các yếu tố độc lập dẫn đến tỷ lệ rò miệng nối cao hơn là kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng, giới tính nam, không làm dẫn lưu bảo vệ miệng nối, và mất máu nhiều. Tỷ lệ tái phát tại chỗ 5 năm khoảng 9,7%, tỷ lệ sống 5 năm và 5 năm không bệnh khoảng từ 66,5% và 74,5%.
Chỉ định: ung thư trực tràng 1/3 dưới nằm trên đường lược 1cm. Thậm chí khối u ở vị trí thấp hơn nữa khi thực hiện cắt toàn bộ cơ thắt trong. Khối u chưa xâm lấn cơ thắt ngoài.
Phẫu thuật gồm 2 đường:
Đường bụng: Thực hiện cắt toàn bộ mạc treo trực tràng qua cơ nâng hậu môn đến phần cơ thắt hậu môn.
Đường hậu môn: thì phẫu thuật này được tiến hành với banh hậu môn bằng dụng cụ Lone Star, đường cắt vòng quanh ống hậu môn ở ngang hoặc dưới đường lược qua các lớp thành ống hậu môn, xuyên qua cơ thắt trong để vào rãnh gian cơ thắt (khi cắt bán phần cơ thắt trong) hoặc qua các lớp thành ống hậu môn vào thẳng rãnh gian cơ thắt (khi cắt toàn bộ cơ thắt trong) (hình 1.9). Phẫu tích theo rãnh gian cơ thắt đi lên để gặp đường phẫu tích từ trên xuống. Quá trình phẫu tích cần đảm bảo nguyên tắc cắt toàn bộ mạc treo trực tràng. Trực tràng được đưa ra ngoài qua hậu môn rồi xác định vị trí cắt bỏ. Lập lại lưu thông tiêu hóa bằng miệng nối trực tiếp giữa đại tràng – ống hậu môn.

Các diện phẫu tích cắt cơ thắt trong
Đường màu xanh lá cây và xanh nước biển tương ứng: cắt bán phần và toàn bộ cơ thắt trong; Đường màu đỏ: không được khuyến cáo thực hiện.
Kỹ thuật được thực hiện vào năm 1956, sau đó được thay đổi và cải biên. Phẫu thuật thực hiện cắt toàn bộ trực tràng có bảo tồn cơ thắt, miệng nối thực hiện qua đường hậu môn. Phẫu thuật được chỉ định cho ung thư trực tràng thấp cách rìa hậu môn 3 – 6cm, u không xâm lấn cơ thắt hậu môn, kích thước khối u nhỏ dưới 2cm.
Kỹ thuật của phương pháp này là cắt toàn bộ trực tràng, bảo tồn cơ thắt, kéo đại tràng Sigma xuống nối với cơ thắt hậu môn. Các tác giả dùng thuật ngữ “pull through” để mô tả kỹ thuật này. Phẫu thuật làm giảm chất lượng cuộc sống do số lần đi ngoài nhiều hoặc đi ngoài mất tự chủ. Để cải thiện biến chứng này, các tác giả thường làm tạo hình túi chứa đoạn đại tràng đưa xuống tạo miệng nối gọi là “J pouch” như một trực tràng nhân tạo thay thế. Bảo vệ miệng nối đại tràng – ống hậu môn bằng kỹ thuật mở thông hồi tràng trên dòng.
Phẫu thuật cắt cụt trực tràng đường bụng – tầng sinh môn. Kỹ thuật gồm cắt bỏ một phần đại tràng sigma, toàn bộ trực, hậu môn, các cơ thắt, cơ hậu môn và hạch lympho vùng chậu. Do không bảo tồn cơ thắt nên phải đưa đại tràng sigma làm hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Phương pháp được chỉ định cho ung thư trực tràng thấp ≤ 5 cm cách rìa hậu môn. Hoặc u xâm lấn cơ thắt, khối u ở 1/3 giữa trực tràng có khả năng cắt được nhưng không bảo tồn cơ thắt hậu môn được.
Zinner M.J trong Maingot‘s Abdomino Operations khuyến cáo rằng phẫu thuật tạm thời chỉ định đối với ung thư trực tràng giai đoạn IV tùy thuộc vào mức độ của các triệu chứng hiện tại. Khi khối u gây biến chứng như chảy máu, thủng hay tắc ruột. Các phương pháp phẫu thuật lựa chọn gồm: