Các dấu hiệu phát hiện bệnh ung thư dạ dày - PGS. TS. BS Nguyễn Anh Tuấn

Các dấu hiệu phát hiện bệnh ung thư dạ dày

 

Ung thư dạ dày khó phát hiện được ở giai đoạn sớm. Thường thì không có triệu chứng gì đặc hiệu, khi ung thư đã đựơc phát hiện trên lâm sàng thì đã ở giai đoạn muộn, do vậy ung thư dạ dày có các triệu chứng lâm sàng khác nhau tuỳ theo giai đoạn của bệnh.

  1. Triệu chứng cơ năng

Giai đoạn sớm:

  • Ăn uống kém, chán ăn: đây là triệu chứng xuất hiện sớm nhất, tuy vậy nó không đặc hiệu, xuất hiện từ từ làm cho bệnh nhân không để ý đến, bệnh nhân thường phàn nàn ăn uống không ngon miệng.
  • Khó chịu hoặc đau ở bụng: cảm giác đau ậm ạch vùng thượng vị, đau không rõ ràng, không đau nhiều như trong bệnh loét dạ dày.
  • Chướng hơi dạ dày sau khi ăn: bệnh nhân có cảm giác sau bữa ăn đầy bụng, khó tiêu, chính điều này làm cho cảm giác chán ăn tăng lên.
  • Buồn nôn, hoặc nôn: ít xuất hiện ở giai đoạn sớm, tuy vậy bệnh nhân có cảm giác buồn nôn, nôn khan.
  • Toàn thân người mệt mỏi, giảm khả năng lao động, da xanh niêm mạc nhợt biểu hiện của sự mất máu rỉ rả từ tổ chức ung thư, người gầy sút cân nhanh.

Giai đoạn muộn:

  • Đau bụng: đây là triệu chứng làm cho bệnh nhân khó chịu nhất với tính chất đau không có chu kỳ, không liên quan đến ăn uống, thường đau liên tục trong quá trình của bệnh.
  • Nôn và buồn nôn: đây là triệu chứng do khối u phát triển làm chít hẹp môn vị thức ăn không qua được môn vị.
  1. Triệu chứng thực thể

  • Khi xuất hiện các triệu chứng này thường bệnh đó ở vào giai đoạn muộn.
  • Người hốc hác, da xanh, niêm mạc nhợt.
  • Khám thấy khối u ở vùng thượng vị di động hoặc không di động.
  • Có triệu chứng hẹp môn vị: lắc óc ách lúc đói; dấu hiệu Bouveret (+).
  • Khi ung thư đó di căn còn có các triệu chứng ngoài đường tiêu hoá: sốt kéo dài, phù hai chân, gan to đau, mặt gan lổn nhổn (di căn gan), ổ bụng có dịch, thành bụng lổn nhổn (di căn phúc mạc), hạch thượng đòn trái (Troisier). Khối u buồng trứng, gặp ở phụ nữ ung thư dạ dày di căn xuống buồng trứng (còn gọi là khối u Krukenberg).
  1. Triệu chứng cận lâm sàng

  • Chụp X-quang dạ dày có uống thuốc cản quang: cho chúng ta biết được hình ảnh gián tiếp của ung thư dạ dày. Tuy nhiên hình ảnh chỉ rõ ràng khi kích thước khối u đó lớn, ung thư dạ dày sớm hầu như không phát hiện được trên X-quang. Hình ảnh X-quang của  ung thư dạ dày có thể thấy là: hình ảnh ổ loét sâu, xung quanh nổi cao thành gờ cứng, các nếp niêm mạc quy tụ cạnh ổ loét, hình ảnh dạ dày bị khuyết hẹp xung quanh hang vị hoặc dạ dày bị nhiễm cứng như củ khoai lang trong ung thư dạ dày thể thâm nhiễm.
  • Nội soi, sinh thiết dạ dày: soi dạ dày là phương pháp chẩn đoán hiện đại, độ chính xác cao, rất có giá trị trong chẩn đoán ung thư dạ dày sớm.

Nội soi dạ dày sinh thiết tổn thương là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán bệnh.

Soi dạ dày – sinh thiết tổn thương được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán ung thư dạ dày. Kết quả chẩn đoán nội soi sinh thiết dạ dày phụ thuộc rất nhiều vào trình độ người soi, kỹ thuật và sồ mảnh sinh thiết. Số mảnh sinh thiết càng nhiều thì tỷ lệ chẩn đoán đúng càng cao. Khi sinh thiết 10 mảnh thì tỷ lệ chẩn đoán đúng có thể lên tới 95%. Các hình ảnh nội soi của ung thư dạ dày có thể thấy là:

  • Một đám chợt nông hoặc nhiễm cứng trên bề mặt niêm mạc dạ dày.
  • Một ổ loét sùi, méo mó, đáy bẩn hoại tử, bờ gồ cao nham nhở: thể loét.
  • Một khối u sùi chân rộng, hoại tử, chảy máu: thể sùi.
  • Nhiễm cứng toàn bộ dạ dày hoặc một vùng, bơm hơi không giãn nở: thể thâm nhiễm.
  • Với những tổn thương nhỏ, khó xác định khi sinh thiết, người ta cũng áp dụng phương pháp nhuộm niêm mạc dạ dày qua nội soi để làm rõ tổn thương.

Xét nghiệm sinh học: các xét nghiệm sinh học, miễn dịch có vai trò định hướng chẩn đoán, bổ sung chẩn đoán và theo dõi tái phát sau mổ ung thư dạ dày như: toan độ dịch vị: (ung thư dạ dày vụ toan gặp 50%; thiểu toan 25%). Men lacticodehydrogenase của dịch vị (bình thường < 350 đơn vị, trong ung thư dạ dày tăng tới 800 – 1.000 đơn vị). Acid lactic (bình thường 100mg/l, trong ung thư dạ dày có 50% các trường hợp Acid lactic tăng trên 100mg/l). Định lượng CEA (Carcino Embrynoic Antigen): bình thường dưới 0,5mg/l, nếu sau mổ mà CEA vẫn cao dai dẳng hoặc đột nhiên tăng vọt thì cần nghĩ tới còn sót tổ chức ung thư hoặc ung thư tái phát.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.