Điều trị béo phì trên thế giới - PGS. TS. BS Nguyễn Anh Tuấn

Điều trị béo phì trên thế giới

Điều trị nội khoa những bệnh nhân béo phì nặng thường chỉ mang kết quả ngắn hạn và hầu như không mang lại kết quả thành công lâu dài với người béo phì có chỉ số khối cơ thể (BMI) 35 trở lên thì chỉ có 3% thành công với phương pháp điều trị nội khoa. Hiệp hội y khoa Hoa Kỳ đã công nhận vấn đề này ở các bệnh nhân béo phì. Điều trị nội khoa đã không đạt được những thành công lớn trong điều trị béo phì. Xem xét các thử nghiệm lâm sàng về tác động của giải pháp thay đổi lối sống đối với bệnh béo phì đã chỉ ra rằng đa số các thử nghiệm đều không có hiệu quả, một vài báo cáo chỉ ra hiệu quả nhưng vô cùng nhỏ đối với BMI[1].

Bằng chứng có giá trị nhất đến từ những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng giữa 2 nhóm được phẫu thuật giảm béo và điều trị nội khoa trên những bệnh nhân béo phì có kèm tiểu đường kết hợp. Nghiên cứu bệnh béo phì Thụy Điển (The Swedish Obese Subjects study: SOS) là thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát đầu tiên cung cấp những kết quả xa về hiệu quả của phẫu thuật giảm béo trên những bệnh nhân béo phì có kết hợp tiểu đường, bệnh lý tim mạch, ung thư và tỉ lệ tử vong chung.

Hình 1: Tỉ lệ giảm béo trong nghiên cứu bệnh béo phì Thụy Điển

Nghiên cứu đánh giá trên những bệnh nhân được phẫu thuật giảm béo năm 2010 (bao gồm: Nối tắt dạ dày: 13%; Thắt đai dạ dày: 19%; Phẫu thuật chỉnh hình dạ dày: vertical banded gastroplasty-VBG: 68%) và 2037 trường hợp đối chứng được điều trị nội khoa tiêu chuẩn theo dõi trong vòng 10 đến 20 năm. Nghiên cứu SOS đã theo dõi 98,9% đối tượng và nhận thấy sau 15 năm kể từ khi bắt đầu, bệnh nhân phẫu thuật đã giảm 18% trọng lượng cơ thể, trong khi nhóm đối chứng chỉ giảm được 1% sau 15 năm. như thể hiện trong hình 1. Việc giảm cân kéo dài và giảm các tình trạng hôn mê sau phẫu thuật giảm cân đã giúp giảm 29% tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân phẫu thuật giảm cân (tỷ lệ nguy hiểm được điều chỉnh, 0,71; khoảng tin cậy 95%, 0,54-0,92; P = 0,01) [2]. Nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất trong nghiên cứu SOS là ung thư (47 ở nhóm đối chứng và 29 ở nhóm phẫu thuật). Tỷ lệ nhồi máu cơ tim đã giảm đáng kể ở nhóm phẫu thuật so với nhóm đối chứng (tỷ lệ nguy hiểm, 0,56) và nhóm phẫu thuật có số lượng biến cố tim mạch lần đầu (tỷ lệ nguy hiểm, 0,67) thấp hơn so với nhóm đối chứng. Đáng chú ý nhất, thử nghiệm SOS cho thấy giảm 80% tỷ lệ tử vong hàng năm của bệnh nhân tiểu đường trong nhóm giảm cân phẫu thuật so với bệnh nhân đối chứng phù hợp (tỷ lệ tử vong 9% ở nhóm phẫu thuật so với tỷ lệ tử vong 28% ở nhóm đối chứng)[2-4].

Nghiên cứu SOS cũng đã chỉ ra mức độ hoạt động thể chất và cải thiện chất lượng sống cao hơn ở nhóm phẫu thuật giảm cân so với nhóm kiểm soát cân nặng không phẫu thuật tại thời điểm 10 năm. Tuy nhiên cần mất 13 năm nghiên cứu thống kê để xác định tỉ lệ sống được cải thiện rõ rệt so với nhóm điều trị nội khoa [1].

Đã có nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh kết quả xa giữa phẫu thuật giảm cân với điều trị nội khoa, và tất cả đều kết luận rằng phẫu thuật giảm cân là phương pháp điều trị hiệu quả hơn có ý nghĩa thống kê đối với những bệnh nhân béo phì có hoặc không kèm đái tháo đường và các bệnh kết hợp khác so với nhóm điều trị nội khoa. Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên của O’Brien đã tiến hành trong nhóm thanh thiếu niên béo phì được chọn ngẫu nhiên giữa phẫu thuật thắt đai dạ dày hoặc ăn kiêng và thay đổi lối. Những bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên vào phẫu thuật thắt đai đã giảm 34,6 kg so với nhóm ăn kiêng kết hợp thay đổi lối sống, họ chỉ giảm 3,0 kg khi kết thúc thử nghiệm 2 năm[5]. Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên khác dành cho người bệnh béo phì trong độ tuổi trưởng thành, nhóm phẫu thuật thắt đai đã giảm được 21,6% trọng lượng cơ thể so với lúc đầu, trong khi nhóm điều trị nội khoa chỉ giảm được 5,5%[6].

Bằng chứng mức 1 trong bảng 2 được tổng hợp và phân tích từ nhiều tử nghiệm lâm sàng đã cho thấy phẫu thuật giảm cân (Phẫu thuật nội soi thu nhỏ dạ dày hình ống, Phẫu thuật nội soi nối tắt dạ dày hỗng tràng Roux-en-Y, Phẫu thuật nội soi thắt đai dạ dày) cho kết quả vượt trội hơn so với điều trị nội khoa[7-8-9]. Schauer và các đồng nghiệp đã chọn ngẫu nhiên 150 bệnh nhân béo phì có tiểu đường tuyp II mất kiểm soát vào 3 nhóm (điều trị nội khoa tích cực, phẫu thuật nội soi thu nhỏ dạ dày hình ống, phẫu thuật nội soi nối tắt dạ dày – hỗng tràng Roux –en-Y) điểm cắt đầu tiên được đánh giá tại thời điểm 1 năm ở những bệnh nhân có mức HbA1c ≤ 6%. Cả 2 nhóm được phẫu thuật đều có số bệnh nhân đạt được kiểm soát đường huyết tốt hơn có ý nghĩa so với nhóm không phẫu thuật, thêm nữa, mức giảm cân ở nhóm phẫu thuật cao hơn nhiều so với nhóm điều trị nội khoa[9]. Việc sử dụng thuốc để hạ Glucose, hạ lipid máu và mỡ máu giảm có ý nghĩa ở 2 nhóm phẫu thuật, trong khi tăng lên ở nhóm điều trị nội khoa. Schauer cũng chỉ ra rằng tại thời điểm 3 năm sau thử nhiệm cả 2 nhóm được phẫu thuật (phẫu thuật nội soi thu nhỏ dạ dày hình ống, phẫu thuật nội soi nối tắt dạ dày-tá tràng Roux-en-Y) có chất lượng sống tốt hơn nhóm không phẫu thuật[9].

 

Bảng 2. Thử nghiệm lâm sàng giữa phẫu thuật và điều trị không phẫu thuật bệnh béo phì
Hình ảnh 2; So sảnh kết quả lâm sàng giữa phẫu thuật và điều trị nội khoa

Tài liệu tham khảo

  1. J. Picot, J. Jones, J. L. Colquitt và cs (2009) The clinical effectiveness and cost-effectiveness of bariatric (weight loss) surgery for obesity: a systematic review and economic evaluation. Health Technol Assess, 13 (41), 1-190, 215-357, iii-iv.
  2. L. Sjostrom (2013) Review of the key results from the Swedish Obese Subjects (SOS) trial – a prospective controlled intervention study of bariatric surgery. J Intern Med, 273 (3), 219-234.
  3. L. Sjostrom, K. Narbro, C. D. Sjostrom và cs (2007) Effects of bariatric surgery on mortality in Swedish obese subjects. N Engl J Med, 357 (8), 741-752.
  4. L. Sjostrom, K. Narbro, C. D. Sjostrom và cs (2007) Effects of bariatric surgery on mortality in Swedish obese subjects. N Engl J Med, 357 (8), 741-752.
  5. P. E. O’Brien, S. M. Sawyer, C. Laurie và cs (2010) Laparoscopic adjustable gastric banding in severely obese adolescents: a randomized trial. Jama, 303 (6), 519-526.
  6. P. E. O’Brien, L. MacDonald, M. Anderson và cs (2013) Long-term outcomes after bariatric surgery: fifteen-year follow-up of adjustable gastric banding and a systematic review of the bariatric surgical literature. Ann Surg, 257 (1), 87-94.
  7. J. B. Dixon, P. E. O’Brien, J. Playfair và cs (2008) Adjustable gastric banding and conventional therapy for type 2 diabetes: a randomized controlled trial. Jama, 299 (3), 316-323.
  8. S. Ikramuddin, J. Korner, W. J. Lee và cs (2013) Roux-en-Y gastric bypass vs intensive medical management for the control of type 2 diabetes, hypertension, and hyperlipidemia: the Diabetes Surgery Study randomized clinical trial. Jama, 309 (21), 2240-2249.
  9. P. R. Schauer, S. R. Kashyap, K. Wolski và cs (2012) Bariatric surgery versus intensive medical therapy in obese patients with diabetes. N Engl J Med, 366 (17), 1567-1576.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.