Xin chao

Phụ nữ bị bệnh béo phì có nguy cơ khó có thai hơn và gia tăng các biến chứng thai kỳ

Ngày nay cùng với sự phát triển về kinh tế, tỉ lệ thừa cân và bệnh béo phì đang ngày càng gia tăng trong cộng đồng, cùng xu hướng đó là sự gia tăng số phụ nữ béo phì trong độ tuổi sinh sản. Các nghiên cứu trên thế giới về mối liên quan giữa bệnh béo phì và thai kỳ đã chỉ ra rằng, so với những phụ nữ bình thường, những phụ nữ béo phì (BMI ≥ 30kg/m2) khi mang thai có nguy cơ gia tăng tỉ lệ các biến chứng như sảy thai, dị tật thai nhi, sinh non, macrosomia, chấn thương khi sinh, thai chết lưu, tăng huyết áp thai kỳ, tiểu đường thai kỳ, thuyên tắc ối, khó sinh dẫn đến tỷ lệ sinh mổ cao hơn, biến chứng gây mê, nhiễm trùng, băng huyết..(1-3)

Trong khi việc thay đổi lối sống và chế độ dinh dưỡng cũng như sử dụng thuốc hạn chế hấp thu lipid là lựa chọn đầu tiên, phẫu thuật giảm béo vẫn là phương pháp can thiệp lâm sàng có hiệu quả nhất trong điều trị bệnh lý béo phì

Có một thực tế là sự sụt giảm tỉ lệ sinh ở những phụ nữ béo phì và thừa cân mà nguyên nhân xuất phát từ sự giảm tỉ lệ rụng trứng và các yếu tố liên quan, ngay cả khi những phụ nữ này có chu kỳ kinh nguyệt đều đặn, các nhà khoa học Mỹ khi nghiên cứu những phụ nữ điều trị vô sinh tại 7 trung tâm lớn về Hiếm muộn ở Mỹ và Canada đã nhận thấy rằng nguy cơ rủi ro vô sinh gia tăng theo mức độ BMI, phụ nữ với BMI càng cao có rủi ro vô sinh càng lớn (ở nhóm có BMI ≥ 27kg/m2 RR=3,1: 95%CI=2,2-4,4). Hội chứng buồng trứng đa nang (Polycystic ovarian syndrome: PCOS) cũng có liên quan đến sự tăng cân, dẫn đến suy giảm khả năng sinh sản, theo đó những phụ nữ này có thể cải thiện khả năng sinh sản thông qua liệu trình giảm cân

Đánh giá nguy cơ thai kỳ giữa phụ nữ có và không có béo phì, năm 2004 tác giả Weiss JL đã tiến hành nghiên cứu hồi cứu trên 16.102 bệnh nhân, tác giả chia thành 3 nhóm: chỉ số khối cơ thể (BMI) dưới 30 (nhóm chứng), BMI từ 30 đến 34,9 (béo phì độ I) và BMI từ 35 trở lên (béo phì độ II). Theo đó có 3.752 bệnh nhân nhóm chứng, 1.473 bệnh nhân béo phì độ I và 877 bệnh nhân béo phì độ II. Nghiên cứu đã cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa bệnh béo phì với tăng huyết áp thai kỳ (ORs 2,5 và 3,2), tiền sản giật (OR 1,6 và 3,3), tiểu đường thai kỳ (OR 2,6 và 4,0), cân nặng thai nhi trên 4000 g (OR 1,7 và 1,9) và trên 4500 gr (OR 2,0 và 2,4). Tỷ lệ sinh mổ là 20,7% ở nhóm đối chứng, 33,8% đối với bệnh nhân béo phì độ I và 47,4% đối với bệnh nhân béo phì độ II (Bảng 1)

Bảng 1: Tỉ lệ biến chứng thai kỳ giữa ba nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu Weiss JL

Phẫu thuật đã được chứng minh giúp cải thiện rõ rệt những yếu tố nguy cơ liên quan thai kỳ ở phụ nữ mang thai sau phẫu thuật giảm béo, cơ chế giải thích cho điều đó có liên quan đến việc cải thiện tình trạng rụng trứng, duy trì quá trình kinh nguyệt đều đặn, cải thiện sức khỏe và các vấn đề liên quan hội chứng buồng trứng đa nang. Trong 12 tháng đầu tiên sau khi phẫu thuật giảm béo, trạng thái dị hóa sẽ chiếm ưu thế do tác động của quá trình giảm cân nhanh chóng, với sự ổn định dần dần của tình trạng dinh dưỡng cơ thể trong những tháng tiếp theo. Vì lý do này, phụ nữ thường được khuyên nên tránh mang thai trong 12 tháng đến 24 tháng sau khi phẫu thuật. Điều này nhằm mục đích giảm nguy cơ chậm phát triển thai nhi trong tử cung trong khi cho phép các bà mẹ đạt được lợi ích điều trị đầy đủ của phẫu thuật, các biện pháp tránh thai trong thời gian này nên áp dụng là tránh thai không dùng thuốc vì tác dụng của thuốc tránh thai có thể bị ảnh hưởng trong 12 tháng đầu sau phẫu thuật.

Trong năm 2019, tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã có gần 20 bệnh nhân béo phì được PGS. TS Nguyễn Anh Tuấn phẫu thuật thành công, theo dõi sau một năm cân nặng trung bình giảm 26,16 ± 5,76 kg (18-35); BMI giảm trung bình: 9,6 ± 1,9 (7-14) kg/m2. Trong số này có 9 bệnh nhân nữ trong độ tuổi sinh sản, hiện tại các bệnh nhân có sức khỏe ổn định, rất hài lòng với kết quả phẫu thuật.

Như vậy có thể thấy rằng có mối liên quan giữa bệnh béo phì và khả năng sinh sản cũng như nguy cơ rủi ro thai kỳ, những phụ nữ thừa cân và béo phì khó mang thai hơn và khi có thai thì nguy cơ rủi ro thai kỳ cao hơn so với người bình thường. Phẫu thuật có thể cải thiện đáng kể tình trạng trên, đồng thời quá trình mang thai chỉ nên xảy ra sau khi phẫu thuật 24 tháng.

 

 

 

Inbox tư vấn trực tiếp bởi PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn tại:

 Website: https://drnguyenanhtuan.com
– Facebook: https://facebook.com/Pgs.Ts.NguyenAnhTuan
 Hotline: 0988.849.234