Viêm loét dạ dày tá tràng những điều cần biết!!! - PGS. TS. BS Nguyễn Anh Tuấn

Viêm loét dạ dày tá tràng những điều cần biết!!!

Viêm loét dạ dày tá tràng là căn bệnh gây tổn thương viêm và loét trên niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng (phần đầu của ruột non). Những tổn thương này xảy ra khi lớp niêm mạc (màng lót bên trong cùng) của dạ dày hay tá tràng bị bào mòn và các lớp bên dưới thành dạ dày hay thành ruột sẽ bị lộ ra. Vết loét ở tá tràng chiếm 95%, vết loét ở dạ dày chiếm 60%, trong đó vết loét ở bờ cong nhỏ dạ dày chiếm 25% các trường hợp.

 1. Yếu tố nguy cơ viêm loét dạ dày tá tràng

Mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ niêm mạc (mucin) và HCl pepsin. Khi có một vết xước ở niêm mạc dạ dày và thường là những nơi tiếp giáp giữa các vùng. Như vậy hàng rào bảo vệ của niệm mạc bị phá vỡ. HCl và pepsin thấm qua các khe này của niêm mạc ngấm sâu xuống tổ chức dưới niêm mạc, phá huỷ tổ chức, lớp cơ niêm. Quá trình xơ hoá được hình thành tạo nên những ổ viêm loét dần dần hình thành những ổ loét mạn tính.

Cơ chế hình thành ổ loét do Helicobacter pylori (HP).

Trong thời gian gần đây nhiều nghiên cứu cho rằng trong niêm mạc dạ dày có nhiều xoắn khuẩn. Nhưng thương tổn do gây rách niêm mạc, là nơi có nhiều nhất. Quá trình viêm loét do Helicobacter pylori bắt đầu, có những đợt viêm hoặc loét cấp xảy ra ăn sâu dần vào niêm mạc, dưới niêm mạc, hình thành những ổ loét mãn tính. Do vậy cần phải kết hợp thêm kháng sinh.

Vi khuẩn Helicobacter pylori

  • Ai là người dễ bị viêm loét dạ dày:

Những người béo phì

Thức khuya, ăn đêm

Công việc áp lực, stress

Lạm dụng rượu bia

2.Các dấu hiệu của bệnh viêm loét dạ dày

2.1 Đau vùng bụng trên rốn (hay còn gọi là đau vùng thượng vị)

Đây là một trong các dấu hiệu chính của bệnh viêm loét dạ dày. Nếu loét tá tràng thì cơn đau thường sẽ xuất hiện vào lúc đói hoặc là lúc sau ăn khoảng 2 – 3 tiếng, có thể đau vào lúc nửa đêm về sáng, lan ra sau lưng. Cơn đau xuất hiện âm ỉ, đau tức bụng hoặc đau quặn từng cơn. Bạn nên hạn chế ăn những món ăn chua, cay… khi đang đói.

2.2. Đầy bụng, khó tiêu, buồn nôn hay nôn.

Một số triệu chứng như đầy bụng, buồn nôn cũng là một trong những dấu hiệu thường xuyên của bệnh viêm loét dạ dày tá tràng.

Cảm giác bị đầy bụng, khó tiêu là do dạ dày đã bị tổn thương, kéo theo hoạt động tiêu hóa chậm lại, khiến cho người bệnh thường cảm thấy chướng bụng, đầy hơi.

2.3. Mất ngủ, ngủ không ngon giấc

Mất ngủ hay giấc ngủ thường xuyên bị gián đoạn do bụng bị đầy hơi, bụng nặng cảm giác khó tiêu, hay do đau lúc bụng đói nửa về đêm sáng.

2.4. Ợ hơi, ợ chua, hoặc nóng rát thượng vị

Đa số bệnh nhân khi bị viêm loét dạ dày-tá tràng thường có các triệu chứng này. Ợ hơi, hoặc ợ chua là những dấu hiệu rất hay gặp phải ở những bệnh nhân bị bệnh trong thời kỳ đầu.

3. Đặc điểm của tổn thương 

  • Loại tổn thương

Loét cấp tính: hình thành do những yếu tố khi uống thuốc chống viêm, stress chấn thương tinh thần. Ổ loét thường nằm ở niêm mạc vùng thân dạ dày nơi bài tiết acid. Loét thường nông, có thể có nhiều ổ loét.

Loét mạn tính: xuất hiện từ từ, tiến triển kéo dài và thường hay tái diễn. Ổ loét ở các vùng niêm mạc không bài tiết acid.

  • Vị trí ổ loét

Loét dạ dày

Loét mạn tính thường có một ổ loét, nếu có trường hợp loét ở vị trí mặt trước sau áp nhau gọi là Kissing ulcer. Hơn 90% ổ loét nằm ở nơi tiếp giáp của loại niêm mạc ở phần dạ dày khác nhau, đó là vùng quanh lỗ tâm vị (l%), giữa thân vị với hang vị (12%). Ở dạ dày các ổ loét thường nằm dọc bờ cong nhỏ (82%) với chiều rộng 2,5cm, là nơi gặp nhau của lớp cơ chéo và lớp cơ vòng dạ dày. Mặt sau (3%) và mặt trước (2%).

Loét cấp tính có nhiều ổ nhiều, nằm ở vùng thân dạ dày, mặt sau nhiều hơn mặt trước.

Loét tá tràng: loét thường nằm nơi tiếp nối giữa niêm mạc vùng tá tràng hang vị và niêm mạc ruột non, vị trí cách môn vị 1 cm là hành tá tràng, nơi không bài tiết acid. Loét hành tá tràng thường gặp hơn loét dạ dày, tiến triển nhanh hơn.

  • Đặc Điểm Tổn thương

Loét cấp tính: vết loét mất hết lớp niêm mạc bên trên. Chỉ có một vài trường hợp có sự xơ hoá rất chậm ở đáy ổ loét, thậm chí còn không thấy biến đổi lớp tổ chức dưới niêm mạc. Bờ ổ loét thường tròn, đều, xung quanh các nếp niêm mạc còn mềm mại, các nếp niêm mạc thường hội tụ.

Loét mãn tính: vết loét làm mất hết niêm mạc, ăn sâu vào lớp niêm mạc và làm mất lớp cơ, đáy ổ loét thể hiện sự xơ hoá, tổ chức xơ nhiều hay ít tuỳ theo thời gian tiến triển của ổ loét. Ổ loét có thể khoét sâu, qua hết lớp thanh mạc, thủng và dính vào các tổ chức xung quanh.

Các ổ loét nằm ở nơi thay đổi niêm mạc, sự bài tiết acid bình thường hoặc có giảm. Thông thường phối hợp với hiện tượng trào ngược dịch, mật do rối loạn co bóp của môn vị. Có thể chia ổ loét theo phân chia Johnson như sau:

* Loại l: thường gặp nhất (57%), ở cạnh góc bờ cong nhỏ với sự bài tiết acid bình thường hoặc là giảm.

* Loại 2: (27%) cũng ở cạnh góc bờ cong nhỏ, nhưng thường kèm theo loét tá tràng đồng thời có sự tăng bài tiết acid.

* Loại 3: (22%) ổ loét nằm ở vùng trước môn vị cùng với sự tăng bài tiết acid.

Bên cạnh tổn thương loét còn có các tổn thương khác có thể xuất hiện như:

Viêm: xuất hiện ở hang vị nếu là loét hành tá tràng. Trong những đợt đau thường có thể thấy viêm tá tràng. Đối với trường hợp ổ loét dạ dày, viêm xuất hiện xung quanh ổ loét, hang vị và vùng thân vị, hình thành ổ nhỏ tập trung thường được gọi là Gastrite munifocal.

Ung thư: các ổ loét dạ dày mạn tính, có sự thoái hoá ác tính sau nhiều năm. Thường chỉ ở một điểm trên, bờ của ổ loét lan dần theo mép và theo chiều sâu. Ngoài ra còn có đám tổ chức thoái hoá ác tính khác nằm cạnh ổ loét.

Quá trình tiến triển của ổ loét trong một thời gian như sau: loét hình tròn (giai đoạn 1) sẽ chuyển thành loét không đều sau một vài năm (giai đoạn thời gian sau loét không đều chuyển thành loét kẽ (giai đoạn 3). Những ổ loét tròn và không đều trải qua nhiều đợt tiến triển và ổn định, hình thành những vùng liền sẹo. Trong quá trình đô sẽ hình thành tổn thương loét gọi là Salamin thể hiện là một vùng lõm và những đám hoại tử xen kẽ giữa tổ chức hạt, lớp cơ niêm mạc và lớp cơ ở đáy bị tổn thương. Loét kẽ là ổ loét giai đoạn cuối (sau 10 – 15 năm). Đó là một tổn thương mạn tính mà khả năng liền sẹo rất kém và khó. Nếu ổ loét tròn hình thành ở đầu của một vết rách có thể tạo thành một ổ loét cái vợt (Raquette).

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.