Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dày Thế giới và Việt Nam - PGS. TS. BS Nguyễn Anh Tuấn

Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dày Thế giới và Việt Nam

Phẫu thuật nội soi cắt dạ dày là phẫu thuật lấy đi một phần hoặc toàn bộ dạ dày, đây là một kỹ thuật ít xâm lấn mang lại hiệu quả cao trong điều trị các bệnh lý ở dạ dày như ung thư dạ dày, viêm loét dạ dày, thủng dạ dày.Nhưng phẫu thuật nội soi có thực sự mang lại lợi ích cho người bệnh trong điều trị ung thư dạ dày? Chúng ta cùng tìm hiểu việc ứng dụng của phương pháp phẫu thuật nội soi trên thế giới và tại Việt Nam như thế nào?

 Nghiên cứu trên thế giới

Kể từ năm 1991, sau trường hợp phẫu thuật nội soi hỗ trợ đầu tiên cắt dạ dày bởi tác giả Kitano S, Nhật bản, phẫu thuật nội soi cắt dạ dày đã thu hút sự chú ý của các phẫu thuật viên trên khắp thế giới. Do tính chất phẫu thuật phức tạp, thời gian phẫu thuật dài và trang thiết bị tốn kém, người ta luôn đặt câu hỏi là phương pháp có thực sự mang lại lợi ích cho người bệnh hay không?

Vị trí các Troca trong phương pháp phẫu thuật nội soi cắt 2/3 dạ dày hoàn toàn trong ổ bụng.

Kitano S báo cáo kết quả của 1294 bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm (với 1212 (93,7%) giai đoạn IA, 75 (5,8%) giai đoạn IB và 7 (0,5%) giai đoạn II) được PTNS cắt dạ dày nội soi kèm nạo hạch D1 + β và D2 tại 16 trung tâm của Nhật Bản. Tỉ lệ chuyển mổ mở 1,1% (14 trường hợp), nguyên nhân chủ yếu do chảy máu từ động mạch vị trái, các động mạch vị ngắn và lách. Tỉ lệ biến chứng và tử vong chung là 14,8 và 0%, trong đó chảy máu sau mổ ở 14 (1,1%) trường hợp, xì miệng nối ở 28 trường hợp (2,2%). Tỉ lệ sống còn không bệnh sau 5 năm của ung thư ở giai đoạn IA là 99,8%, giai đoạn IB là 98,7% và giai đoạn II 85,7%. Tuy nhiên, tác giả không chỉ định với những trường hợp có kèm ung thư ở cơ quan khác, tiền sử có mổ mở vùng bụng trên và bệnh nhân có nguy cơ tim mạch, hô hấp (ASA > 3). Nghiên cứu này đã chứng minh rất rõ ràng phẫu thuật nội soi đã đem lại nhiều lợi ích thực sự trong điều trị triệt căn ung thư dạ dày, người bệnh ít đau, hồi phục nhanh, giảm ngày nằm điều trị. Kết quả về mặt ung thư học không khác so với mổ mở cả về tỷ lệ vét hạch triệt căn, tỷ lệ tái phát tại chỗ và thời gian sống thêm sau mổ.

Trong các nghiên cứu áp dụng cho ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển, nghiên cứu của Chen Q. Y. và cs. là chi tiết và cụ thể nhất. Tác giả lựa chọn u xâm lấn T2 và T3, nghiên cứu đối chứng 224 BN được PTNS hỗ trợ và 112 BN được mổ mở cắt DD nạo vét hạch D2 từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2012 tại Khoa phẫu thuật tiêu hóa, Bệnh viện Đại học Y Phúc Kiến. Kết quả PTNS hỗ trợ và mổ mở: về thời gian, số lượng hạch nạo vét, tỷ lệ tai biến và tử vong không có sự khác biệt với p > 0,05.      Trong khi đó PTNS hỗ trợ lượng máu mất ít hơn, bệnh nhân đỡ đau, hồi phục nhanh hơn, giảm ngày nằm điều trị sau mổ so với mổ mở có ý nghĩa với p < 0,05Theo dõi sống sau mổ, Sica G. và cs. thấy tỷ lệ sống 5 năm sau mổ của nhóm PTNS là 54,5%, mổ mở là 56%, tỷ lệ tái phát ung thư của 2 nhóm là 50% và 52%, không có sự khác biệt với p > 0,05. Tỷ lệ sống 5 năm sau mổ giữa 2 nhóm PTNS và mổ mở không có sự khác biệt với p > 0,05.

Tác giả Huang C. M., Tu R. H., Lin J. X. và cộng sự phân tích 2170 trường hợp ung thư dạ dày được cắt dạ dày nội soi và vét hạch. Tỉ lệ biến chứng chung là 13,8% (299/2170 trường hợp), trong đó biến chứng nặng xảy ra ở 78 trường hợp (3,8%). Phân tích đơn biến cho thấy các yếu tố có liên quan đến tai biến và biến chứng là: tuổi (p = 0,001), BMI (p = 0,021), lượng Hb (p = 0,031), lượng albumin/máu (p = 0,026), chảy máu tiêu hóa (p = 0,001); trong đó: tuổi, chảy máu tiêu hóa và lượng máu mất trong mổ có liên quan đến các biến chứng nặng. Phân tích đa biến cho thấy tuổi > 65, BMI ≥ 28, chảy máu tiêu hóa có ý nghĩa đến tai biến và biến chứng, trong đó tuổi ≥ 65, chảy máu tiêu hóa và lượng máu mất trong mổ ≥ 75 ml liên quan biến chứng nặng sau mổ.

 Nghiên cứu tại Việt Nam

Các nghiên cứu ở Việt nam được tiến hành từ năm 2004. Tuy nhiên, do khó khăn về kỹ thuật, trang thiết bị và chi phí phẫu thuật, hầu hết các nghiên cứu hiện có ở Việt nam đều là phẫu thuật nội soi hỗ trợ. Do đặc điểm nước ta tỷ lệ chẩn đoán ung thư dạ dày sớm còn thấp, phần lớn đã ở giai đoạn tiến triển, khối u lớn, tình trạng di căn hạch nhiều, thời gian đầu các tác giả còn nghi ngại về khả năng nạo vét hạch của phẫu thuật nội soi. Năm 2007, Trịnh Hồng Sơn và cs. thông báo “Kết quả bước đầu cắt dạ dày với nội soi hỗ trợ trong điều trị tổn thương loét và ung thư dạ dày”. Quá trình thực hiện 7 bước, thời gian phẫu thuật 205 phút, Tác giả kết luận phẫu thuật nội soi bước đầu cho thấy bệnh nhân đỡ đau, hồi phục nhanh, sẹo mổ nhỏ hơn mổ mở nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc phẫu thuật ung thư. Nhiều nghiên cứu khác tại Việt nam đã chứng minh phẫu thuật nội soi cắt dạ dày có lượng máu mất ít hơn, BN hồi phục nhanh, giảm ngày nằm điều trị, kết quả vét hạch và tỷ lệ tai biến, biến chứng và tử vong phẫu thuật tương đương như mổ mở. Tuy nhiên các nghiên cứu tại Việt nam trong thời gian qua chỉ hầu hết thực hiện trên nhóm các bệnh nhân được phẫu thuật nội soi hỗ trợ, chưa có nghiên cứu nào thực hiện phẫu thuật nội soi hoàn toàn

Đỗ Văn Tráng, năm 2012 nghiên cứu kỹ thuật nạo vét hạch bằng phẫu thuật nội soi hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày vùng hang môn vị. Kết quả nạo vét hạch D2 bằng phẫu thuật nội soi có thể thực hiện được tương đương mổ mở, thời gian mổ trung bình là 211,1 phút, số lượng hạch nạo vét TB là 15,3 hạch, BN đỡ đau, hồi phục sớm, ngày nằm điều trị sau mổ trung bình là 7,0 ngày [36].

Hồ Chí Thanh, nghiên cứu 165 trường hợp ung thư dạ dày được cắt dạ dày nội soi hỗ trợ và nạo hạch D2 tại Bệnh viện 103 từ tháng 4/2009 đến tháng 8/2013. Thời gian phẫu thuật trung bình 205 phút, hạch vét được trung bình trên 1 bệnh nhân là 24,1 hạch, tỷ lệ hạch di căn là 22,7%. Kết quả theo dõi sống sau mổ 4 năm là 53,3%; 3 năm 62,2%: 2 năm 73,8%; 1 năm là 80,7%.

Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, khi điều kiện kinh tế đã có nhiều tiến bộ, với trang thiết bị đồng bộ và kỹ thuật được đào tạo bài bản bởi các chuyên gia đến từ Nhật bản, Hàn Quốc, PGS. TS Nguyễn Anh Tuấn đã là người đi tiên phong trong phát triển phẫu thuật nội soi hoàn toàn tại Việt Nam.

PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn chuyên gia đầu nghành trong lĩnh vực phẫu thuật nội soi tiêu hóa.

Tác giả đã có báo cáo kết quả trên một nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam với phẫu thuật nội soi hoàn toàn cắt dạ dày, vét hạch D2, nối theo Billroth II. Dạ dày được cắt và miệng nối dạ dày-hỗng tràng được thực hiện hoàn toàn trong cơ thể. Kết quả nghiên cứu từ tháng 1/2019 đến 12/2019 trên 60 bệnh nhân đã chứng minh phẫu thuật nội soi hoàn toàn cắt dạ dày, vét hạch D2 là phương pháp an toàn, khả thi với thời gian phẫu thuật trung bình chỉ là147,20 ± 25,48 phút, thời gian nằm viện trung bình là 28,5 ± 10,6 ngày, không có trường hợp nào biến chứng bục miệng nối hoặc chảy máu sau mổ, không có tử vong phẫu thuật. Khả năng vét hạch rất khả quan với số hạch vét được trung bình là 28,5 ± 10,6 hạch. Phẫu thuật đòi hỏi phẫu thuật viên phải có nhiều kinh nghiệm và được đào tạo tốt về phẫu thuật nội soi, đồng thời phải được thực hiện trong một cơ sở có trang thiết bị đầy đủ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.